Khoảng 75% các trường hợp dị vật đường thở xảy ra ở trẻ em dưới 4 tuổi. Tuy nhiên, tai nạn này có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi và trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Triệu chứng và nguyên nhân
Việc nhận biết sớm các triệu chứng là rất quan trọng để sơ cứu và cấp cứu kịp thời.
Triệu chứng

Dấu hiệu đặc trưng nhất là hội chứng xâm nhập, xảy ra ngay khi dị vật đi vào đường thở. Người bệnh đột ngột xuất hiện các triệu chứng:
- Ho sặc sụa, dữ dội.
- Khó thở, mặt mũi tím tái.
- Có thể vã mồ hôi, trợn mắt, đại tiểu tiện không tự chủ.
Sau hội chứng xâm nhập, các triệu chứng có thể tạm thời dịu đi hoặc tiến triển nặng hơn tùy thuộc vào vị trí dị vật:
- Dị vật ở thanh quản: Ho ông ổng, khàn tiếng hoặc mất tiếng, khó thở thì hít vào.
- Dị vật ở khí quản: Khó thở từng cơn, có tiếng "phất cờ bay" khi dị vật di chuyển trong đường thở.
- Dị vật ở phế quản: Các triệu chứng thường xuất hiện muộn hơn, bao gồm sốt, ho sặc sụa tái diễn, khó thở cả hai thì.
Nguyên nhân
Dị vật đường thở có thể do nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan:
- Trẻ nhỏ: Do thói quen cho đồ vật vào miệng, sặc thức ăn (cơm, cháo, sữa) khi bị ép ăn hoặc cười đùa trong lúc ăn.
- Người lớn: Có thể do sặc thức ăn, hít phải vật nhỏ. Các đối tượng có nguy cơ cao bao gồm người già, người đột quỵ, hoặc bệnh nhân sau các phẫu thuật vùng họng như nhổ răng, cắt amidan.
Chẩn đoán và phòng ngừa
Chẩn đoán
Lâm sàng
- Hội chứng xâm nhập
Hội chứng này có thể khai thác được ở 93% số bệnh nhân, còn 7% không khai thác được hội chứng xâm nhập là những trường hợp dị vật sống như con tắc te, bệnh nhân bị hôn mê, không có người chứng kiến mà trẻ còn nhỏ chưa tự kể được hoặc do người chứng kiến cố tình dấu diếm.
Hội chứng xâm nhập là do phản xạ co thắt chặt thanh quản ngăn không cho dị vật xuống dưới và phản xạ ho liên tiếp để tống dị vật ra ngoài. Trên lâm sàng biểu hiện bằng cơn ho sặc sụa, tím tái, vã mồ hôi, trợn mắt mũi, đôi khi đại tiểu tiện không tự chủ, cơn kéo dài khoảng 3 – 5 phút, sau đó có ba khả năng có thể xảy ra:
- Dị vật được tống ra ngoài nhờ phản xạ bảo vệ của thanh quản.
- Dị vật quá to chèn ép kín tiền đình thanh quản làm cho bệnh nhân ngạt thở, tử vong trước khi đến được bệnh viện.
- Dị vật mắc lại trên đường thở, ở thanh quản, khí quản hoặc phế quản.
Tùy theo vị trí dị vật mắc lại mà trên lâm sàng có các biểu hiện khác nhau.
- Triệu chứng toàn thân
- Khó thở: Trong giai đoạn đầu khi chưa có nhiễm khuẩn, các triệu chứng nổi trội là tình trạng khó thở. Nếu dị vật mắc lại ở thanh quản, bệnh nhân có khó thở thanh quản các mức độ khác nhau tùy theo kích thước của dị vật và thời gian dị vật mắc lại trên đường thở. Nếu kích thước dị vật to có thể gây ra khó thở thanh quản độ 2, 3, hoặc có thể bị ngạt thở, nếu dị vật nhỏ hơn có thể không gây ra khó thở hoặc khó thở thanh quản ở mức độ nhẹ.
- Cũng có thể gặp khó thở hỗn hợp cả hai thì do dị vật nằm ở khí quản đoạn thấp hoặc ở phế quản, bệnh nhân thường có các cơn ho và khó thở xảy ra khi gắng sức hoặc ngay cả khi nghỉ ngơi.
- Sốt: Thường gặp sau một vài ngày sau khi có nhiễm khuẩn do các dị vật ô nhiễm như các loại xương, thịt, hạt lạc, bã mía…
Triệu chứng cơ năng và thực thể
Tùy theo vị trí dị vật mắc lại mà trên lâm sàng thấy có các dấu hiệu khác nhau.
Dị vật ở thanh quản:
- Các vật mắc lại ở thanh quản thường là các vật dẹt, sắc nhọn, sù sì… như là vỏ trứng, đầu tôm, xương cá…
- Cơ năng: Thường gặp khàn tiếng, mất tiếng, mức độ nặng hoặc nhẹ tuỳ theo kích thước dị vật và thời gian dị vật mắc lại ở thanh quản.
- Khó thở thanh quản: Ở các mức độ khác nhau tùy theo kích thước dị vật và tuỳ theo thời gian dị vật mắc lại ở thanh quản. Nếu dị vật to có thể gây bít tắc gần hoàn toàn thanh quản làm cho bệnh nhân khó thở thanh quản nặng, có khi ngạt thở cấp.
- Ho: Thường gặp ho khan không có đờm, ho từng cơn dài do kích thích thanh quản càng làm cho thanh quản phù nề làm cho bệnh nhân khó thở ngày càng tăng.
- Thực thể: Chủ yếu là nghe phổi: nghe phổi có thể thấy hoàn toàn bình thường nhưng cũng có thể nghe thấy tiếng ran rít ở cả hai bên phổi, lan từ trên xuống, cũng có khi thấy rì rào phế nang giảm ở cả hai bên phổi.
Dị vật ở khí quản:
Thường gặp các vật tròn, nhẵn, trơn tru… kích thước khá to so với khẩu kính của khí phế quản bệnh nhân.
- Cơ năng: Hay xảy ra các cơn ho rũ rượi, sặc sụa tím tái do dị vật di động trong lòng khí quản, đôi khi di động lên thanh quản gây ra các cơn ho. Nếu dị vật di động bắn lên thanh quản và kẹt ở thanh môn làm cho bệnh nhân ngạt thở, nếu không được xử trí đúng, kịp thời thì bệnh nhân sẽ tử vong.
- Thực thể: Nghe phổi có thể thấy ran rít, ran ngáy cả hai bên phổi, dị vật to có thể thấy rì rào phế nang giảm cả hai bên phổi, nếu nghe thấy tiếng lật phật cờ bay là đặc hiệu dị vật ở khí quản.
Dị vật ở phế quản:
- Cơ năng: Khó thở hỗn hợp cả hai thì, thường chỉ gặp khi là dị vật to bít lấp phế quản gốc một bên, hay gặp ở phế quản phải nhiều hơn phế quản trái.
- Sốt: những ngày sau thường có hiện tượng viêm nhiễm gây ra các biến chứng ở phế quản, phổi nên hay có sốt, có thể gặp sốt vừa hoặc sốt cao, tuỳ theo mức độ viêm nhiễm ở phổi.
- Triệu chứng thực thể: Nghe phổi có thể thấy rì rào phế nang giảm hoặc mất một bên, có thể kèm theo ran rít, ran ngáy, cũng có thể có ran ẩm, ran nổ…
Gõ ngực: Tiếng đục khi có áp xe hoặc xẹp phổi một bên. Gõ trong, vang khi có tràn khí màng phổi.
Cận lâm sàng
- Các xét nghiệm máu ít có giá trị trong chẩn đoán dị vật, chỉ có thể cho biết tình trạng viêm nhiễm khi có tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao.
- Chụp X-quang cổ nghiêng hoặc phổi thẳng có thể cho phép chẩn đoán dị vật đường thở. Tuy nhiên, chỉ thấy hình ảnh dị vật trên phim X-quang nếu dị vật là kim loại, còn các loại khác ít khi có biểu hiện trên phim, chủ yếu là hình ảnh các biến chứng do dị vật gây ra như viêm phế quản, phế quản phế viêm, áp xe một bên hoặc một phân thuỳ phổi, xẹp một bên hoặc một phân thuỳ phổi, khí phế thũng, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, tràn dịch màng phổi.
Chẩn đoán xác định
- Trước tiên, hội chứng xâm nhập là dấu hiệu gợi ý.
- Hỏi bệnh và khám thực thể: Đánh giá tình trạng và kiểu khó thở cũng có thể hướng tới chẩn đoán và định khu được dị vật: nếu có khàn tiếng và khó thở thanh quản thì dị vật ở thanh quản. Nếu khó thở và ho từng cơn dữ dội, thường dị vật nằm ở khí quản….
- Nghe phổi cho biết được mức độ viêm nhiễm ở phổi và vị trí của dị vật:
Dị vật ở thanh quản sẽ thấy tiếng rít, ngáy lan từ trên xuống ở cả hai bên phổi, đôi khi thấy rì rào phế nang giảm ở cả hai phổi do tình trạng kém thông khí.
Dị vật ở khí quản: Nghe thấy tiếng rít ở cả hai phổi, nghe có tiếng lật phật cờ bay là điển hình dị vật ở khí quản.
Dị vật ở phế quản: Nghe thấy rì rào phế nang giảm hoặc mất một bên. Cũng có thể nghe thấy ran ẩm, ran nổ nếu đã có tình trạng viêm nhiễm.
Nội soi thanh, khí, phế quản, nếu thấy dị vật ở đường thở là chẩn đoán xác định.
Chẩn đoán phân biệt
- Viêm phổi: Thường ho từng cơn, nghe phổi có ran ẩm, trên phim phổi có hình ảnh viêm nhiễm cả hai bên phổi.
- Áp xe phổi: Những viêm nhiễm khu trú ở một bên phổi thường hay gợi ý nghĩ đến dị vật đường thở. Chẩn đoán xác định dựa vào nội soi.
- Xẹp phổi: Các nguyên nhân gây xẹp phổi như khối u, viêm nhiễm. Cần phải chẩn đoán phân biệt bằng nội soi.
Phòng ngừa
Phòng tránh là cách tốt nhất để ngăn ngừa tai nạn này:
- Đối với trẻ em: Không cho trẻ chơi, ngậm các vật nhỏ, tròn như hạt, kẹo, nắp bút bi. Không cho trẻ ăn uống trong khi đùa nghịch hoặc cười.
- Đối với người lớn: Ăn chậm, nhai kỹ, đặc biệt là người già hoặc người có phản xạ nuốt kém.
Sơ cứu và điều trị
Khi phát hiện người bị dị vật đường thở, việc xử lý nhanh chóng là vô cùng quan trọng.
Sơ cứu ban đầu
Trong trường hợp tối cấp, người bệnh bị ngạt thở, cần thực hiện ngay các biện pháp sau:
- Đối với trẻ nhỏ: Nằm sấp trẻ trên tay, đầu dốc xuống, vỗ mạnh vào lưng trẻ.
- Đối với người lớn: Áp dụng nghiệm pháp Heimlich (đứng sau lưng nạn nhân, vòng tay qua bụng và ép mạnh vào vùng thượng vị) để tạo áp lực đẩy dị vật ra ngoài. Lưu ý, chỉ thực hiện khi nạn nhân đang bị ngạt thở và không thể nói hoặc ho.
Điều trị y tế
Sau khi sơ cứu, cần đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất để được điều trị chuyên sâu:
- Cấp cứu hô hấp: Bác sĩ có thể phải mở khí quản hoặc đặt nội khí quản cấp cứu để đảm bảo đường thở thông thoáng.
- Soi gắp dị vật: Đây là phương pháp điều trị chính. Bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng sẽ sử dụng ống nội soi để gắp bỏ dị vật một cách an toàn nhất.
- Điều trị hỗ trợ: Sau khi gắp dị vật, bệnh nhân có thể cần điều trị bằng thuốc kháng sinh, chống viêm, hoặc các biện pháp hỗ trợ hô hấp khác để xử lý các biến chứng như viêm phổi.
Nguồn: Tổng hợp
Lưu ý: Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Độc giả nên tham khảo ý kiến bác sĩ, dược sĩ hoặc chuyên gia y tế để được tư vấn cụ thể và chính xác nhất.