Menu

  • Trang chính
  • Sản phẩm
  • Hướng dẫn mua hàng
  • Câu hỏi thường gặp
  • Tra cứu bệnh
>Bệnh chuyên khoa>Hô hấp>Áp-xe phổi: Bệnh lý nguy hiểm và những điều bạn cần biết

Áp-xe phổi: Bệnh lý nguy hiểm và những điều bạn cần biết

Hô hấp20 tháng 8, 2025

Áp-xe phổi (tên tiếng Anh là Lung Abscess) là tình trạng nhiễm trùng hoại tử cấp tính của nhu mô phổi, tạo thành các hang chứa đầy mủ, xác bạch cầu chết và vi sinh vật gây bệnh. Bệnh có thể xảy ra sau các đợt nhiễm trùng cấp tính như viêm phổi, tắc mạch phổi nhiễm khuẩn, hoặc trên các tổn thương ...

Tổng quan về áp-xe phổi

Dựa vào các tiêu chí khác nhau, áp-xe phổi được phân loại thành:

  • Theo thời gian tiến triển:
    • Áp-xe phổi cấp tính: Thời gian diễn biến dưới 4 - 6 tuần.
    • Áp-xe phổi mạn tính: Thời gian diễn biến trên 6 tuần.
  • Theo cơ địa người bệnh:
    • Áp-xe phổi nguyên phát: Nhiễm trùng phổi mà không có tổn thương hoặc bệnh lý nền từ trước.
    • Áp-xe phổi thứ phát: Nhiễm trùng phổi xảy ra trên nền các bệnh lý sẵn có như giãn phế quản, hang lao, hoặc do nhiễm trùng máu.

Triệu chứng của áp-xe phổi

Áp-xe phổi thường diễn ra qua 3 giai đoạn chính, mỗi giai đoạn có những triệu chứng đặc trưng:

  • Giai đoạn ổ mủ kín: Các ổ mủ bắt đầu hình thành và phát triển. Triệu chứng ban đầu khá mờ nhạt, gồm ho khan, đau ngực, sốt cao (trên 39 - 40°C), kèm theo mệt mỏi, chán ăn, và sụt cân. Giai đoạn này rất khó chẩn đoán nếu không được thăm khám chuyên sâu.
  • Giai đoạn ộc mủ: Thường xuất hiện sau 6 - 15 ngày từ khi khởi phát. Ổ áp-xe vỡ ra do dịch mủ tích tụ quá nhiều, gây ra triệu chứng nguy hiểm hơn. Bệnh nhân có cơn ho dữ dội, ộc ra lượng lớn mủ (có thể tới hàng trăm ml), đờm có mùi hôi hoặc lẫn máu. Sau cơn ho, người bệnh thường mệt lả, vã mồ hôi, nhưng có thể cảm thấy dễ chịu hơn tạm thời.
  • Giai đoạn ổ mủ thông với phế quản: Bệnh nhân vẫn ho dai dẳng, nhưng lượng mủ khạc ra ít hơn. Ho thường xảy ra nhiều hơn khi thay đổi tư thế, do các tác nhân kích thích.

Nguyên nhân và đối tượng nguy cơ

Nguyên nhân gây bệnh

Tác nhân gây áp-xe phổi rất đa dạng, nhưng phổ biến nhất là vi khuẩn kỵ khí. Với trẻ nhỏ, tụ cầu vàng là nguyên nhân thường gặp, đi kèm với các triệu chứng nhiễm trùng nặng. Ngoài ra, bệnh còn có thể do các tác nhân khác như ký sinh trùng, vi khuẩn Klebsiella Pneumoniae, v.v.

Vi khuẩn có thể xâm nhập và gây áp-xe phổi qua nhiều con đường:

  • Đường khí - phế quản: Đây là con đường phổ biến nhất. Vi khuẩn từ vùng mũi họng, răng miệng có thể bị hít sặc vào phổi, đặc biệt ở những người có phản xạ ho yếu, nghiện rượu, hoặc sau các phẫu thuật vùng tai - mũi - họng.
  • Đường máu: Vi khuẩn từ các ổ nhiễm trùng khác trong cơ thể (như viêm nội tâm mạc) theo đường máu đến phổi và gây bệnh.
  • Đường kế cận: Áp xe có thể tiến triển gây viêm diện rộng sang phổi do viêm ở khu vực xung quanh như: áp xe gan, áp xe thực quản, áp xe dưới cơ hoành, viêm màng phổi mủ, viêm màng ngoài tim,…

Đối tượng có nguy cơ cao

Một số nhóm đối tượng đặc biệt dễ mắc áp-xe phổi bao gồm:

  • Người lớn tuổi, người yếu liệt, nằm lâu: Hệ miễn dịch suy giảm, ho khạc yếu, vệ sinh răng miệng kém, dễ bị hít sặc.
  • Người nghiện rượu, ma túy, sử dụng thuốc an thần: Tình trạng suy giảm ý thức khiến họ dễ hít phải chất tiết vào phổi.
  • Người có các bệnh lý nền: Đái tháo đường, ung thư, suy giảm miễn dịch, hoặc có các tổn thương phổi sẵn có.

Chẩn đoán và điều trị áp-xe phổi

Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định

Giai đoạn nung mủ kín thường khó khăn vì triệu chứng nghèo nàn, không điển hình. Do vậy, trước khi tiến hành điều trị, bác sĩ sẽ sử dụng phương pháp chẩn đoán xác định như:

  • Một số bệnh nhân bị sốt từ 38 độ C – 39 độ C hoặc cao hơn, có thể kèm rét run hoặc không. Cơ thể mệt mỏi, tâm trạng thay đổi nhiều.
  • Với những bệnh nhân áp xe phổi thùy dưới xuất hiện tình trạng đau ngực bên tổn thương.
  • Bệnh nhân ho khạc đờm có mủ nhiều (ộc mủ), đờm mùi hôi hoặc thối, đôi khi có thể ho ra máu lẫn mủ, có khi ho khan;
  • Tình trạng khó thở, nhịp thở nhanh, suy hô hấp như thở nhanh, tím môi, đầu chi, PaO2 giảm;
  • Khám phổi: Có thể thấy ran ngáy, ran ẩm, có khi thấy hội chứng hang, hội chứng đông đặc;
  • Công thức máu: Nếu do vi khuẩn, có thể có bạch cầu tăng, công thức bạch cầu chuyển trái. Tốc độ máu lắng tăng;
  • X-quang phổi: Thấy hình hang thường có thành tương đối đều, hình mức nước-hơi. Có thể chỉ có 1 ổ áp xe, hay nhiều ổ. Cần chụp phim nghiêng (có khi phải chụp cắt lớp vi tính) để xác định chính xác vị trí ổ áp xe giúp chọn phương pháp dẫn lưu mủ phù hợp.
  • Cần lấy máu, đờm hoặc dịch hút từ phế quản để nhuộm soi, nuôi cấy vi khuẩn. Căn cứ vào kết quả của kháng sinh đồ để sử dụng kháng sinh cho phù hợp.

Chẩn đoán phân biệt

  • Trong trường hợp, bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng nuốt nghẹn, nói khàn, móng tay khum, ngón dùi trống, phù áo khoác… Có thể là dấu hiệu của bệnh người thư phổi áp xe hóa. Bác sĩ sẽ chỉ định chụp phim X-quang phổi thấy thành hang dày, thường lệch tâm, xung quanh có các tua gai, trong lòng lồi lõm mấp mô, ít khi có mức nước ngang. Đối tượng mắc ung thư phổi áp xe hóa thường > 45 tuổi, có tiền sử nghiện thuốc lá, thuốc lào.
  • Kén khí phổi bội nhiễm: Biểu hiện lâm sàng giống áp xe phổi, X-quang phổi thấy hình hang thành mỏng < 1mm, có mức khí dịch và sau khi điều trị thì kén khí vẫn còn tồn tại.
  • Khi bệnh nhân có dấu hiệu ho, khạc đờm hoặc có khi ho ra máu kéo dài nhiều năm, nghe phổi có ran ẩm, ran nổ tồn tại lâu và được chỉ định chụp X-quang.
  • Chụp X-quang phổi ra hình ảnh nhiều ổ sáng xen kẽ vùng mờ không đều, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực lớp mỏng 1mm độ phân giải cao hoặc chụp phế quản cản quang giúp chẩn đoán xác định là dấu hiệu của bệnh giãn phế quản hình túi cục bộ.
  • Một số bệnh nhân toàn trạng gầy sút suy sụp, sốt về chiều, ho khạc đờm, hoặc máu là dấu hiệu lâm sàng của lao phổi có hang. Khi X-quang phổi thấy trên nền tổn thương thâm nhiễm hoặc xơ hoá có một hoặc nhiều hang, khu trú thường ở đỉnh phổi. Phản ứng tuberculin trong nhiều trường hợp dương tính mạnh, máu lắng tăng.

Điều trị

Việc điều trị áp-xe phổi cần được tiến hành sớm để ngăn ngừa biến chứng. Các phương pháp điều trị chính bao gồm:

  • Điều trị nội khoa:
    • Sử dụng kháng sinh: Đây là phương pháp quan trọng nhất. Kháng sinh cần được sử dụng sớm, liều cao và phối hợp đúng phác đồ theo kết quả kháng sinh đồ. Liệu trình điều trị thường kéo dài, có thể từ 3-4 tuần hoặc lâu hơn.
    • Dẫn lưu ổ áp-xe: Dẫn lưu mủ giúp giảm áp lực trong phổi và giúp kháng sinh phát huy tác dụng tốt hơn. Các phương pháp bao gồm dẫn lưu tư thế, vỗ rung lồng ngực, hoặc chọc dẫn lưu qua da.
  • Điều trị hỗ trợ: Bệnh nhân cần được nghỉ ngơi, cung cấp đủ dinh dưỡng, và sử dụng các thuốc điều trị triệu chứng như hạ sốt, giảm đau để cải thiện sức khỏe.
  • Phẫu thuật: Phẫu thuật chỉ được chỉ định trong những trường hợp ổ áp-xe quá lớn, không đáp ứng với điều trị nội khoa, hoặc có nguy cơ biến chứng cao.

Phòng ngừa áp-xe phổi

Phòng bệnh luôn quan trọng hơn chữa bệnh. Để giảm nguy cơ mắc áp-xe phổi, bạn nên lưu ý:

  • Vệ sinh răng miệng và đường hô hấp: Luôn giữ vệ sinh tốt cho răng, miệng, mũi, họng để ngăn ngừa vi khuẩn xâm nhập.
  • Điều trị triệt để các bệnh nhiễm khuẩn: Không chủ quan với các bệnh lý về răng miệng, viêm xoang, hoặc viêm phế quản.
  • Tăng cường sức đề kháng: Tập thể dục thường xuyên, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, đặc biệt bổ sung vitamin C và các vitamin nhóm B.
  • Thận trọng khi ăn uống: Tránh để sặc dị vật vào đường thở, đặc biệt ở người già và người có phản xạ nuốt kém.
  • Thăm khám định kỳ: Khi có các triệu chứng ho, sốt cao, đau ngực bất thường, hãy đến ngay cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị kịp thời.

Nguồn: Tổng hợp
Lưu ý: Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Độc giả nên tham khảo ý kiến bác sĩ, dược sĩ hoặc chuyên gia y tế để được tư vấn cụ thể và chính xác nhất.

FacebookZalo