Menu

  • Trang chính
  • Sản phẩm
  • Hướng dẫn mua hàng
  • Câu hỏi thường gặp
  • Tra cứu bệnh
>Bệnh chuyên khoa>Bệnh thần kinh>Liệt Mặt (Liệt Dây Thần Kinh Số VII): Nguyên nhân, điều trị và phòng ngừa di chứng

Liệt Mặt (Liệt Dây Thần Kinh Số VII): Nguyên nhân, điều trị và phòng ngừa di chứng

Bệnh thần kinh2 tháng 10, 2025

Liệt mặt, hay còn gọi là Liệt dây thần kinh số VII, là tình trạng mất vận động hoàn toàn hoặc một phần các cơ trên nửa mặt. Dù hiếm khi đe dọa tính mạng, bệnh lý này lại có nguy cơ cao để lại di chứng nặng nề, gây ảnh hưởng sâu sắc đến thẩm mỹ, giao tiếp và chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Việc nắm rõ thông tin về Liệt Bell (dạng liệt ngoại biên phổ biến nhất) là cần thiết để người dân có thể chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và can thiệp kịp thời.

Phân loại Liệt Mặt

Dây thần kinh số VII (Dây thần kinh mặt) là dây thần kinh vận động chính, chi phối biểu cảm khuôn mặt. Liệt mặt được phân loại theo vị trí tổn thương:

  • Liệt mặt kiểu Trung ương (Central Lesion): Tổn thương nằm trên nhân dây thần kinh VII trong não, thường do các bệnh lý nghiêm trọng như tai biến mạch máu não hoặc u não.
  • Liệt mặt kiểu Ngoại biên (Peripheral Lesion): Tổn thương nằm ở dây thần kinh VII sau khi ra khỏi thân não. Đây là dạng thường gặp nhất, còn gọi là Liệt Bell. Liệt ngoại biên thường xảy ra do nhiễm lạnh hoặc thay đổi thời tiết đột ngột gây co thắt mạch máu, dẫn đến thiếu máu cục bộ, phù nề và chèn ép dây thần kinh.

Triệu chứng điển hình của Liệt Dây Thần Kinh VII

Khi dây thần kinh mặt bị liệt, các chức năng vận động cơ mặt, tuyến lệ và vị giác đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng:

Biểu hiện trên khuôn mặt

  • Mất cân xứng mặt rõ rệt: Mặt bị kéo lệch về bên lành.
  • Xóa nếp nhăn trán: Nếp nhăn trán bên liệt bị xóa hoàn toàn, cung mày rũ xuống.
  • Không khép được miệng: Dẫn đến chảy nước dãi (nước bọt).
  • Khó nhắm kín mắt (Dấu hiệu Charles Bell): Khi nhắm mắt, mắt bên liệt vẫn hở, đồng thời nhãn cầu cuộn lên trên. Bệnh nhân có thể bị khô mắt do tuyến lệ hoạt động kém.
  • Mép hạ thấp: Mép bên liệt bị hạ thấp, má nhẽo và phồng lên khi thở ra.

Các triệu chứng kèm theo

  • Đau: Đau vùng thái dương, quanh tai, góc hàm.
  • Rối loạn vị giác: Thay đổi vị giác ở 32​ phía trước lưỡi.
  • Nhạy cảm với âm thanh: Nghe chói tai (Hyperacusis).
  • Hội chứng Ramsay-Hunt: Nếu do virus Herpes Zoster, bệnh nhân còn bị đau dữ dội và xuất hiện mụn nước ở tai, kèm theo rối loạn chức năng thăng bằng.

Di chứng và Tiên lượng

Mặc dù nhiều trường hợp nhẹ có thể hồi phục trong vòng 2-6 tuần, nhưng nếu không được điều trị kịp thời, nguy cơ di chứng cao, bao gồm: cơ mặt co cứng, yếu cơ kéo dài, rối loạn vận động và hiện tượng "Chảy nước mắt cá sấu" (chảy nước mắt khi ăn).

Nguyên nhân và Đối tượng nguy cơ

Căn nguyên chính xác của Liệt Bell chưa được xác định, nhưng các yếu tố gây tổn thương dây thần kinh đã được chứng minh:

Nguyên nhân

Căn nguyên của bệnh liệt mặt hiện vẫn chưa được xác định cụ thể, song thiếu máu cục bộ mạch máu, mắc bệnh tự miễn hoặc nhiễm virus, đặc biệt là nhóm virus herpes tiềm ẩn (herpes simplex, herpes zoster) được coi là nguyên nhân phổ biến.

Các virus có liên quan đến bệnh liệt Bell bao gồm các virus gây ra:

  • Mụn rộp và mụn rộp sinh dục (herpes simplex)
  • Bệnh thủy đậu và bệnh zona (herpes zoster)
  • Tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng (Epstein-Barr)
  • Nhiễm trùng cytomegalovirus
  • Bệnh đường hô hấp (adenovirus)
  • Bệnh sởi Đức (rubella)
  • Quai bị (virus quai bị)
  • Cúm (cúm B)
  • Bệnh tay chân miệng (coxsackievirus)

Bệnh cạnh đó, di truyền, nhổ răng cũng được coi là yếu tố nguy cơ gây ra bệnh liệt mặt. Ngoài ra, còn có các yếu tố khác như:

  • Bệnh tiểu đường
  • Song phương Bell’s palsy
  • Borreliosis
  • Nhiễm mycoplasma pneumoniae
  • Hội chứng Guillain-Barre
  • Hội chứng Miller-Fisher
  • Sarcoidosis
  • Hội chứng Moebius
  • Bệnh bạch cầu
  • Gãy xương nền sọ
  • Pontine gliomas
  • Bệnh phong
  • Tăng bạch cầu đơn nhân
  • Thai kỳ
  • Viêm não thân não
  • Bệnh Hansen
  • Viêm màng não do Cryptococcus
  • Pontine tegmental xuất huyết
  • Lupus ban đỏ hệ thống
  • Teo cơ cột sống

Đối tượng có nguy cơ cao

  • Người có bệnh lý nền: Tiểu đường, Cao huyết áp, xơ vữa động mạch.
  • Người có thói quen sinh hoạt kém: Thức khuya, đi sớm về khuya, ít tập luyện, lạm dụng rượu bia.
  • Phụ nữ mang thai (Thai kỳ làm tăng nguy cơ).

Chẩn đoán và Phương pháp Điều trị

Chẩn đoán

Với bệnh liệt dây thần kinh số VII, cách chẩn đoán chủ yếu dựa trên các dấu hiệu lâm sàng. Bác sĩ sẽ hỏi cụ thể về trường hợp liệt mặt của người bệnh, xác định khu tổn thương giúp chẩn đoán và xác định được vị trí tổn thương thông qua cách xuất hiện tình trạng liệt mặt, các triệu chứng đi kèm như chảy tai, chấn thương, rối loạn vị giác, giảm tiết nước mắt…

Bên cạnh đó, bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh qua lâm sàng bằng cách:

  • Xác định tình trạng liệt mặt ngoại biên với các dấu hiệu đặc trưng của tổn thương như dấu hiệu Charles bell, người bệnh không thể nhắm kín mắt
  • Ở trạng thái nghỉ, mặt người bệnh không cân xứng, bị kéo lệch về bên lành, nếp nhăn trán bị xóa so với bên đối diện, cung mày bị rũ xuống, mép bên liệt bị hạ thấp so với bên kia, má nhẽo và phồng lên khi thở ra
  • Đối với các tổn thương kín, bác sĩ có thể thấy được nhờ dấu hiệu khi nhắm chặt mi mắt, lông mi bên liệt dài hơn bên lành

Nhìn chung để chẩn đoán chính xác tình trạng liệt dây thần kinh số VII, bác sĩ điều trị cần dựa vào các yếu tố trương lực cơ khi nghỉ, nghiên cứu nhóm cơ ở mặt và thực hiện các thăm khám khác như:

  • Khám tai: Tìm các nốt phỏng vùng cửa tai, chảy tai và tình trạng màng nhĩ cho phép hướng chẩn đoán nguyên nhân.
  • Khám họng và cổ: Sờ cổ mặt và khám họng để loại trừ khối u tuyến mang tai.
  • Khám thần kinh: Tìm các tổn thương dây thần kinh sọ phối hợp khác.

Bệnh nhân có dấu hiệu liệt dây thần kinh số VII ngoài được chẩn đoán lâm sàng, còn được thực hiện các cận lâm sàng, xác định chính xác tình trạng, nguyên nhân gây bệnh.

  • Chụp cộng hưởng từ sọ não có mạch máu não để xác định tổn thương tại trung ương hay ngoại biên
  • Ghi chẩn đoán điện: phản xạ Blink test và ghi dẫn truyền vận động dây thần kinh VII
  • Các xét nghiệm khác: Công thức máu, Đường máu, Máu lắng, Sinh hóa…

Điều trị

Mục tiêu là phục hồi chức năng và ngăn ngừa di chứng bằng phương pháp đa mô thức:

  1. Điều trị Nội khoa (Dùng thuốc):
    • Sử dụng nhóm thuốc kháng viêm (Corticoid), giãn mạch và Vitamin nhóm B.
    • Lưu ý: Cần dùng thuốc sớm ngay khi có triệu chứng để ngăn ngừa thoái hóa dây thần kinh.
  2. Vật lý trị liệu và Y học cổ truyền:
    • Vật lý trị liệu: Điện di, hồng ngoại, xoa bóp và điện xung kích thích cơ mặt.
    • Y học cổ truyền: Châm cứu, bấm huyệt (cần thực hiện đúng kỹ thuật để tránh kích thích quá mức gây co cứng cơ).
  3. Điều trị Ngoại khoa (Phẫu thuật):
    • Chỉ định khi nguyên nhân là do u, áp-xe hoặc khi cần phẫu thuật giải phóng dây thần kinh bị chèn ép trong ống xương đá (ví dụ: do viêm tai xương chũm).

Phòng ngừa Liệt Mặt

Các biện pháp phòng ngừa tập trung vào việc bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân gây co thắt mạch máu và nhiễm lạnh:

  • Giữ ấm cơ thể: Đặc biệt vùng mặt, cổ và tai khi thời tiết lạnh hoặc thay đổi nhiệt độ đột ngột.
  • Tránh thói quen xấu: Hạn chế tắm đêm và tránh gió lùa trực tiếp.
  • Duy trì lối sống lành mạnh: Tập thể dục thường xuyên, ăn uống đầy đủ, hạn chế rượu bia và tránh thức khuya.

Nguồn: Tổng hợp
Lưu ý: Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Độc giả nên tham khảo ý kiến bác sĩ, dược sĩ hoặc chuyên gia y tế để được tư vấn cụ thể và chính xác nhất.

FacebookZalo